Đầm Dạ Trạch và trang sử cũ –

Đầm Dạ Trạch – Khoái Châu- Hưng Yên
Khoái Châu- Hưng Yên có địa danh nổi tiếng một thời, được gọi là Bãi Sậy nằm trong vùng đầm lầy Nhất Dạ Trạch. Lúc hắn học vào cuối năm lớp nhất, thầy giáo say mê với môn lịch sử, thày khó chịu khi học sinh không biết các triều đại của lịch sử Việt Nam, bắt cả lớp phải thuộc lòng các triều đại được viết dưới dạng một bài thơ, mỗi lúc rảnh rỗi, thày đọc một đoạn chỉ đứa nào đứa đó phải tiếp theo không tiếp tục được bị quỳ, đứa nào cũng sợ, nên thày đã thành công trong việc dạy sử cho trẻ, vậy đó mà hắn nhớ cho đến ngày hôm nay, cũng có câu dính dáng đến « đầm dạ trạch ».
…..
Hai bà Trưng đất Mê Linh thắng lợi
Mấy đời sau thêm nữ tướng Nhụy Kiều
Từ Cửu Châu vùng dây cưỡi voi theo
Lý Nam Đế trao quyền cho họ Triệu(Triệu quang Phục)
Đầm Dạ Trạch lừng danh nơi hiểm yếu,
Mai thúc Loan rồi kế đến Phùng Hung….
Còn đoạn khác…
Hịch Cần Vương vua Hàm Nghi xuống chiếu
Núi Vụ Quang nổi bật bóng Đình Phùng
Lũy Ba Đình Đinh công Tráng tận trung
Khu Bãi Sậy còn lưu danh Tán Thuật.
…..
Sau này có lúc hắn làm hiệu trưởng một trường tỉnh hạt, hắn cũng đưa bài này vào chương trình Việt văn lớp 6(không còn gọi đệ thất nữa) còn hay hơn dạy con trẻ « nhị thập tứ hiếu » . Bài « Trang sử cũ » này hắn phụ ghi thêm cuối bài viết

Lúc nhỏ nghịch ngợm mỗi khi trời mưa, sình lầy đầy người, mẹ hắn mới mắng hắn như thằng « đánh dậm » ở Bãi Sậy. Mà hắn cũng đúng là dân Bãi Sậy, con cháu của cụ Tán Thuật(tán tương quân vụ Nguyễn thiện Thuật), tờ khai sinh của hắn ở Hưng Yên ghi nơi sanh là « thôn Sậy đông, Hạ Lễ, Ân Thi, Hưng Yên » mà mẹ hắn hay bảo hắn là trai phố Hiến, phố Hiến cũng gần đấy thôi(nhất kinh kỳ, nhì phố Hiến) miệng lưỡi tán gái cứ như tép nhảy…hình như con gái Xuân Đình có câu vè
Cá Anh Vũ đem kho cùng mía
Thằng Sáu Xuân Đình xạo đía có duyên
Khi về Hà Nội đổi khai sinh, thành phố lại ghi chi tiết là « thôn Xuân Đình, tổng Yên Vĩnh, phủ Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên » lại do Việt Nam dân chủ cộng hòa cấp, đến lúc vào nam, khi thi tiểu học, tờ này thuộc dòng phản loạn cấp phát lại phải làm lại giấy thế vì khai sinh do tòa hòa giải rộng quyền sao lục thì đơn giản hóa chỉ ghi nơi sinh là Hưng Yên. Hình như hắn cũng là đồng hương với nhà thơ Chu mạnh Trinh, ông cũng thuộc dân Khoái Châu cả thi sĩ Vũ hoàng Chương nữa thì phải, vì có lần đưa bố hắn đến « hội tương tế Hưng Yên » có gặp nhà thơ…
Hắn nói về Đầm Dạ Trạch hay khu Bãi Sậy của hắn
Sở dĩ có tên gọi « Dạ Trạch » vì đền nằm ngay trong vùng đầm « Nhất Dạ Trạch », thuộc địa phận xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ngày nay. Còn gọi là đền Hóa vì tương truyền đây chính là nền lâu đài, cung điện của Chử Đồng Tử – Tiên Dung để lại sau khi tất cả đã bay về trời.
Sách « Lĩnh Nam Chích Quái » mà ngày trước hắn có lúc học ghi là (nửa đêm trời bỗng nhiên sáng rực, lâu đài, thành quách của Chử Đồng Tử – Tiên Dung bay cả lên trời, để lại đầm nước mênh mông). Quan quân thấy sự lạ sợ quá về tâu, Vua Hùng Duệ Vương liền đến tận nơi xem và truyền lập đền thờ, nhân dân bốn mùa cúng tế… nếu đúng như truyền thuyết thì ngôi đền Hóa này đã có từ lâu đời, nhưng qua những di tích kiến trúc chắc là sai lệch rất nhiều niên kỷ.
Câu chuyện Chử đồng Tử ngày trước hắn được học ở lớp tư (thời của hắn không gọi là lớp 2, chương trình tiểu học đếm ngược từ lớp năm đến lớp nhất, rồi qua trung học lại đếm ngược lần nữa từ đệ thất, lớp 6 ngày nay cho đến lớp đệ nhất tức là lớp 12) đại khái trẻ nhỏ nào cũng biết công chúa Tiên Dung(đẹp như tiên) dạo chơi trên thuyền đến khu vực làng Chữ Xá nơi có con sông Thương đặc biệt là có bên đục bên trong, ca dao nói như vậy chắc là vậy, chứ hắn có biết đâu! thấy cảnh thanh tú sai quân hầu quây màn tắm, lúc công chúa dừng kiệu chiêng trống ầm vang làm anh chàng Chử đồng tử đang trần truồng như nhộng lặn bắt cá, vừa trồi đầu dậy thấy bóng quan binh sợ quá vùi mình xuống cát trốn.

Ông tơ bà nguyệt chơi ác, quân hầu quây màn ngay chỗ họ Chử trốn dưới cát, khi công chúa dội nước, cát trôi đi lộ thân hình của Chử ta, lại bị ngộp vì nước xối từ đầu đến chân của công chúa đành phải lồm cồm ngồi dậy mà tạ tội, kể hết đầu đuôi là nhà nghèo chỉ có mỗi cái khố lại mặc cho cha lúc đem chôn.
Thấy đủ 6 múi lực lưỡng như anh Vọi cũng không nỡ bỏ phí, nói chữa thẹn với chàng

– Tôi đã định không lấy chồng, nay tình cờ gặp anh thế này, chắc do là trời xui khiến. Anh dậy mà tắm rửa đi!
Tắm chung kiểu này không biết « gạo đã nấu thành cơm » chưa, chỉ biết sau khi tắm, công chúa tuyên bố với mọi người
– Đây là do trời tác hợp cho chúng ta thành vợ chồng ?
Hôn lễ tổ chức ngay trên sông, tin bay về kinh đô, vua Hùng giận cấm về cung. Câu chuyện ngày xưa hắn học là như vậy.

Triệu Việt Vương(524 – 571), tên thật là Triệu Quang Phục, là một trong những lãnh đạo khởi nghĩa, giành tự chủ thời bắc thuộc ở Việt Nam
Sử sách còn ghi lại vào thế kỷ thứ V, Triệu Quang Phục cầu đảo ở đây; thế kỷ XV Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến đền này cầu mộng; đến thời Lê thánh Tôn nhà vua cùng « tao đàn nhị thập bát tú » đến đây làm thơ vịnh Chử đồng Tử và có câu « Anh linh miếu dõi từng hương khói » vậy là đền có từ thời này rồi, nhưng chắc nhỏ bé như một am thờ thôi, sau này xây đi cất lại nhiều lần chưa chắc đã nằm đúng vị trí am thờ ngày xưa, làm sao mà xác định được, nghe các hướng dẫn viên du lịch bịa chuyện cho vui, nhiều khi họ nói sai lệch rất nhiều. Chỉ xác định được đền Dạ Trạch, nơi thờ vợ chồng Chử Đồng Tử-Tiên Dung-Nội Trạch tại xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Nguyễn Thiện Thuật – Linh hồn của cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy
Nhiều tài liệu ghi đền chỉ mới trùng tu khoảng 100 năm, ao, đầm nước chung quanh được lấp kín, trước đền chỉ còn lại cái hồ bán nguyệt nhỏ. Bước lên đền hôm nay chỉ phải leo 4 bậc thay vì 19 bậc như truyền thuyết mới đến được sân đền.
Kiến trúc như những ngôi đền khác, đền nhìn quay mặt hướng đông.

Chính điện có 3 pho tượng lớn, Chử đồng Tử ngồi giữa, Bên trái là Tiên Dung, bên phải là Nội Trạch Tây Cung. Vậy là Chử đồng Tử cũng có hai bà vợ, sau hai bà cùng theo chồng lên tiên cảnh
Nơi đây còn bàn thờ cha mẹ Chử đồng Tử, long vị Dạ Trạch Vương Triệu Quang Phục.
Cũng ở đền Hóa Dạ Trạch, gian giữa còn có tượng thần cá. Đó là « Bế Ngư thần quan ». Tượng bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, đầu rồng, thân và đuôi hình cá chép, dân quen gọi là « ông Bế », còn có tượng hai con ngựa, hai con ngựa của Chử đồng Tử và Tên Dung cưỡi đi chữa bịnh cho dân chúng nhờ chiếc gậy thần chữa bá bịnh.
Tương truyền
Cách đây trên dưới 4000 năm lịch sử, sau khi Chử Đồng Tử kết duyên cùng Tiên Dung công chúa tại bãi Tự Nhiên thuộc Màn Chầu (cuộc tình duyên do thiên định), không được vua cha (tức là vua Hùng Duệ Vương) thuận ý cho nên duyên vợ chồng. Công chúa Tiên Dung không dám hồi cung bèn cùng chồng là anh đánh cá Chử Đồng Tử ở lại khu vực huyện Chu Diên để kiếm kế sinh nhai.
Một hôm Chử Đồng Tử theo thuyền ra khơi đi buôn bán, dạt vào một hòn đảo, gặp được Tiên Ông tên là Ngưỡng Quy Tiên, ông thấy Đồng Tử diện mạo khác thường bèn giữ lại dạy cho một số bài thuốc chữa bệnh bằng lá rừng để cứu dân độ thế và dạy cho phép thuật.
Sau 3 ngày ở động tiên, Chử Đồng Tử đã biết được việc chữa bệnh, Tiên Ông cho phép Đồng Tử về, ban cho Đồng Tử chiếc gậy và nón và dặn: » Phép thần thông ở cả trong này, có việc gì nhà ngươi cần kíp nhà ngươi cứ cắm trượng xuống đất, úp nón trên đầu trượng, đọc câu thần chú mọi việc sẽ được như ý muốn « . Cây gậy, chiếc nón mà Tiên Ông ban tặng cho Chử Đồng Tử ở động tiên được thờ tại đền Hóa Dạ Trạch.
Một ngày kia, trong làng bỗng có bệnh dịch tả, Đồng Tử cùng Tiên Dung đi chữa bệnh cho nhiều người. Một hôm, vì mải chữa bệnh nên khi trời tối, nhớ lại câu thần chú của Tiên Ông dạy, Chử Đồng Tử liền chống cây gậy và úp nón để tạm nghỉ.
Nửa đêm thức giấc thì thấy mình ở trong một tòa lâu đài với cung điện nguy nga, tráng lệ. Vua Duệ Vương thấy vậy thì tưởng rằng con rể định cướp ngôi, vua liền đem quân ra đánh bắt về trị tội.
Khi quân nhà vua đến, thì cả tòa lâu đài bỗng chốc biến đâu mất, để lại nơi đấy một cái Đầm, gọi là »Đầm Nhất Dạ », đó là đêm 17/11 âm lịch. Do đó mang sự tích » Đầm Dạ Trạch » cho đến ngày nay.
Những câu truyện trong « Lĩnh Nam nhất quái » đều quai quái như vậy, hắn cũng có lúc phải làm bài với cái quai quái này, ai tin thì tin, hắn chỉ ghi lại.
Công tử phố Hiến
Ara
TRANG SỬ CŨ
Nhớ từ thuở Lạc Long Quân dựng nước
Cùng Âu Cơ thành lập họ Hồng Bàng
Mười tám đời kế tiếp ở Văn Lang
Danh Phù Đổng Thiên vương Truyền Hậu thế
Nước Âu Lạc theo Loa thành đổ bể
Gươm Lữ Gia còn vấy máu Ai vương
Trải ngàn năm Bắc thuộc chịu đau thương
Dân tộc Việt đã nhiều phen quật khởi
Hai Bà Trưng Đất Mê Linh thắng lợi
Mấy đời sau thêm Nữ tướng Nhụy Kiều
Từ Cửu chân vùng dậy cởi voi theo
Lý Nam Đế trao quyền cho họ Triệu
Đầm Dạ Trạch lừng danh nơi hiểm yếu
Mai Thúc Loan rồi kế tới Phùng Hưng
Đất Giao Châu danh Khúc Hạo vang lừng
Dương Diện Nghệ đắp xây nền tự chủ
Nhờ Ngô Quyền Bạch Đằng giang bất tử
Thành mồ chôn quân Nam Hán hung tàn
Sau nhà Đinh, Quan Thập Đạo Lê Hoàn
Đã phá Tống bắt giết Hầu Nhân Bảo
Lý Thường Kiệt tiến quân như vũ bão
Hạ Khâm, Liêm rồi vây hảm Ung châu
Hội nghị Diên Hồng tính kế cùng nhau
Phá Mông Cổ đã có Trần Quốc Tuấn
Cuộc chiến đấu trải 10 năm lận đận
Bình Định Vương trút kiếm ở Lam Sơn
Gươm Quang Trung đã trút hết căm hờn
Lên hàng chục vạn quân Tôn Sĩ Nghị
Cuộc chiến đấu lâu dài không phút nghỉ
Lại vẫn còn tiếp tục tới gần đây
Khi bắt đầu va chạm với phương Tây
Gò công nhớ Phó Lãnh binh Trương Định
Tri huyện Toại, Thiên Hộ Dương thống lĩnh
Đồng Tháp Mười là căn cứ nghĩa quân
Vùng Tân An lại có Thủ Khoa Huân
Họp dân chúng ở Hóc Môn, Bà Điểm
Nguyễn Tri Phương với tinh thần quyết chiến
Xé bông băng nhịn đói chết theo thành
Tiếp theo sau Hoàng Diệu cũng lừng danh
Khi tuẩn tiết phía sau lăng Võ Miếu
Hịch Cần Vương vua Hàm Nghi Xuống chiếu
Núi Vụ Quang nổi bật bóng Đình Phùng
Lũy Ba Đình Đinh Công Tráng tận trung
Khu Bãi Sậy còn lưu danh Tán Thuật
Rừng Yên Thế khiến sài lang mất mật
Khi nghe tin Đề Thám họ Hoàng Hoa
Phong trào Duy Tân lan khắp gần xa
Hưởng ứng có Sào Nam, Tăng Bạt Hổ
Sau Tây Hồ, Lương Ngọc Can cổ vũ
Đặng Kinh Luân, Dương Bá Trạc, Nguyễn Quyền
Lập Đông kinh Nghĩa thục để tuyên truyền
Tiếp theo đó là Thái Nguyên Khởi Nghĩa
Phạm Hồng Thái liều thân nơi khách địa
Lửa Lâm Thao Yên Báy cũng vùng lên
Mười ba nhà liệt sĩ đã hiên ngang
Nhìn máy chém hô Việt Nam độc lập
Phục quốc quân miền Lạng Sơn bất khuất
Còn biết bao nhiêu liệt sĩ anh hùng
Đã ra tay chống kẻ thù chung
Quyết chiến đấu để dành quyền tự chủ
Máu đỗ, đầu rơi, gương vung, đạn rú
Cũng không hề lay chuyển nổi tinh thần
Lòng hy sinh dũng cảm của toàn dân.
Bài »Trang sử cũ » hắn không nhớ tên tác giả nên xin lỗi tác giả. Chỉ biết là hắn học vào năm 1959 lúc đi thi tiểu học của thời đệ nhất cọng hòa, sau này chương trình giảng dạy theo sách giáo khoa của trung tâm học liệu, bộ giáo dục đường Trần bình Trọng Saigon ấn bản, phát không cho học sinh tiểu học, theo chương trình bắt buộc. Có bỏ một số bài như bài này chỉ dùng làm bài đọc thêm. Sách giáo khoa chương trình trung học thì tùy giáo sư chọn lựa cho học sinh mua, » trung tâm học liệu » cũng có xuất bản, cũng do các giáo sư có kinh nghiệm giảng dạy biên soạn, toán có Bạch văn Ngà; Lý hóa có Đinh văn Lô, Đỗ dức Công, Trương đình Ngữ, văn chương có Trấn trọng San, hắn làm bên « sinh hoạt học đường » cũng gần đó nên cũng biết .
Ara